Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam năm 2020

Thứ ba - 05/01/2021 13:59 525 0
Năm 2020 trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy giảm nghiêm trọng, kinh tế cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng chịu tác động hết sức nặng nề của dịch bệnh Covid-19; bên cạnh đó dịch tả lợn Châu Phi, tình hình thời tiết mưa, bão phức tạp… đã tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh, nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng sụt giảm và có mức tăng trưởng thấp. Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố, Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tính năm 2020 chỉ đạt 93% . So với chỉ tiêu theo Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra về nhiệm vụ năm 2020, dự kiến có 11/14 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính năm 2020 sụt giảm ở mức gần 7% so với năm 2019, đây là lần đầu tiên kinh tế tỉnh Quảng Nam tăng trưởng âm kể từ khi tái lập tỉnh đến nay (năm 1997). Trong mức sụt giảm của toàn nền kinh tế, khu vực dịch vụ giảm 10,2%, chiếm 3,5 điểm phần trăm trong mức giảm chung toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,1% (chiếm 1,8 điểm phần trăm); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 10,9% (chiếm 2,2 điểm phần trăm); riêng khu vực nông lâm thủy sản ít chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên đây là khu vực duy nhất có mức tăng trưởng dương (+3,5%).
Quy mô nền kinh tế Quảng Nam ước tính đến cuối năm 2020 đạt trên 94 nghìn tỷ đồng, thu hẹp hơn 4,8 nghìn tỷ đồng so với năm 2019, trong đó quy mô khu vực dịch vụ bị thu hẹp nhiều nhất với trên 2,4 nghìn tỷ đồng; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm (-1,9 nghìn tỷ đồng); khu vực công nghiệp - xây dựng (-1,6 nghìn tỷ đồng); riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng tăng lên (+1,1 nghìn tỷ đồng) do ít chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Cơ cấu kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,5%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 33,2%; khu vực dịch vụ chiếm 34,3%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 18% (tương ứng năm 2019: 12,7%; 33,2%; 35%; 19,1%).
Kinh tế Quảng Nam năm 2020 gặp khó khăn bởi những ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp chủ lực cho tăng trưởng đã chịu tác động rất lớn bởi dịch bệnh Covid-19. Đây cũng là tình trạng chung của hầu hết các địa phương trên cả nước. So với 5 tỉnh, thành phố trong khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung, Quảng Nam có mức tăng trưởng thấp thứ 2 so với các tỉnh trong khu vực, thành phố Đà Nẵng có mức tăng trưởng thấp nhất (-9,8%); Quảng Ngãi (-1,02%); Thừa Thiên Huế (+2,1%); Bình Định (+3,6%). Về quy mô GRDP, Quảng Nam đứng thứ hai sau Đà Nẵng, cụ thể: quy mô GRDP Quảng Nam cao hơn 1,7 lần so với Thừa Thiên Huế (54,8 nghìn tỷ đồng); gấp 1,1 lần so với Quảng Ngãi (87 nghìn tỷ đồng); gấp gần 1,1 lần so với Bình Định (90 nghìn tỷ đồng); thấp hơn thành phố Đà Nẵng gần 6 nghìn tỷ đồng (Đà Nẵng: 100 nghìn tỷ đồng).
2. Sản xuất nông, lâm  nghiệp và thủy sản
Hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản diễn ra trong điều kiện thời tiết hạn hán, mưa bão, lũ lụt liên tiếp xảy ra gây ảnh hưởng đến các loại cây trồng, sản lượng khai thác thủy sản; bên cạnh đó, dịch tả lợn Châu Phi tái phát trên diện rộng đã gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ít chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Tăng trưởng của cả khu vực đạt 3,5%, cao hơn mức tăng 1,8% của năm 2019; trong đó giá trị tăng thêm (VA) nông nghiệp tăng 2,3%; VA lâm nghiệp (+6,8%); VA thủy sản (+4%) so với năm trước.
Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2020 đạt 83,5 nghìn ha (-1,7%; -1,4 nghìn ha) so với năm trước; năng suất lúa cả năm ước đạt 53,9 tạ/ha (+1,3%; +0,7 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 450,5 nghìn tấn (-0,4%; -1,7 nghìn tấn). Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hằng năm: sản lượng ngô đạt 54,8 nghìn tấn (+2,3%) so với năm trước; khoai lang đạt 16,4 nghìn tấn (-10,7%); sắn đạt gần 182 nghìn tấn (-1,1%); lạc (đậu phộng) đạt gần 22 nghìn tấn (+12,9%); vừng ước đạt gần 1,3 nghìn tấn (+4,5%); rau các loại đạt trên 293 nghìn tấn (+1,2%); đậu các loại 10,8 nghìn tấn (+7,9%)…
Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm 2020 đạt 23,5 nghìn ha (-1,7 nghìn  ha; -6,8%) so với năm 2019. Trong đó, nhóm cây ăn quả đạt gần 8,4 nghìn ha (+90 ha ; +1,1%); nhóm cây công nghiệp gần 12,2 nghìn ha (-1.992 ha ; -14,1%); nhóm cây gia vị, dược liệu đạt gần 1,7 nghìn ha (+146 ha; +9,4%); nhóm cây lâu năm khác đạt 1,3 nghìn ha (+48 ha; +3,8%) so với năm 2019.
Chăn nuôi trâu, bò năm 2020 tương đối ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tổng đàn trâu hiện nay ước đạt 60,1 nghìn con (-2,8%; -1,7 nghìn con), sản lượng xuất chuồng trong năm đạt 2,2 nghìn tấn (-2,3%; -52 tấn) so với cùng kỳ năm trước; đàn bò đạt 173 nghìn con (+1,2%; +2 nghìn con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng xấp xỉ 11,4 nghìn tấn (+2,7%) nhờ thuận lợi về giá cả, thị trường tiêu thụ ổn định; chăn nuôi lợn đang dần được phục hồi, tổng đàn lợn ước đạt 295 nghìn con (+131,1%; +70 nghìn con) so với cùng thời điểm năm trước; chăn nuôi gia cầm ổn định, tổng đàn gia cầm hiện nay đạt 8,4 triệu con (+5,8%; +460 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt trên 16,3 nghìn tấn (+12,8%); sản lượng trứng gia cầm 226,9 triệu quả (+5,9%).
Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm tính đến ngày 11/12/2020: Bệnh dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện ở 39 xã của 12 huyện, thị xã, thành phố ; tổng số lợn mắc bệnh được giám sát tiêu hủy trên 1,2 nghìn con, trọng lượng tiêu hủy là 77,3 tấn. Bệnh lở mồm long móng cả tỉnh có 11 xã thuộc 04 huyện đang còn gia súc mắc bệnh , tổng số gia súc đang còn theo dõi bệnh là 128 con (62 con trâu, 66 con bò).  
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong năm đạt 20 nghìn ha (+2,6%; +510 ha) so với năm 2019; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8,1 triệu cây (+3,2%; +256 nghìn cây); sản lượng gỗ khai thác cả năm đạt 1.451 nghìn m3 (+9,4%; +124,1 nghìn m3) do tận thu gỗ sau bão số 9 bị ngã đổ; sản lượng củi khai thác đạt 476 nghìn ste (-1,9%).
Tổng sản lượng thủy sản năm 2020 ước đạt 124,6 nghìn tấn (+4,3%; +5,2 nghìn tấn) so với năm 2019. Bao gồm: (1) sản lượng khai thác ước đạt 96,5 nghìn tấn (+4,7%), trong đó: sản lượng cá đạt gần 65,9 nghìn tấn (+4,9%); sản lượng tôm đạt 675 tấn (+3,7%); sản lượng thủy sản khác đạt 22,8 nghìn tấn (+4,4%); (2) sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt gần 28,2 nghìn tấn (+3%) so với năm trước, trong đó: sản lượng cá đạt gần 10,2 nghìn tấn (+3,7%); sản lượng tôm đạt 16,9 nghìn tấn (+2,5%); thủy sản khác đạt trên 1 nghìn tấn (+3,7%).
Tình hình thực hiện chương trình MTQG xây dựng xã nông thôn mới (NTM) tiếp tục được quan tâm, đầu tư trong năm 2020; dự kiến đến cuối năm có thêm 15 xã được công nhận sẽ nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM lên 116 xã.
3. Sản xuất công nghiệp
Lĩnh vực công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19 vì các nguyên nhiên vật liệu, phụ trợ, phụ tùng, thiết bị đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất đang gặp khó khăn do dòng lưu chuyển hàng hóa thiếu hụt. VA toàn ngành công nghiệp sụt giảm gần 5% so với năm 2019; đã làm giảm 1,4 điểm phần trăm trong trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; quy mô VA toàn ngành công nghiệp thu hẹp gần 1,4 nghìn tỷ đồng so với năm 2019.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2020 giảm 7,9% so với cùng kỳ  năm trước; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng (-17,3%), công nghiệp chế biến - chế tạo (-10%); ngành sản xuất và phân phối điện (+24,5%) và ngành cung cấp nước và xử lý rác thải (-3,6%). Một số ngành công nghiệp có IIP giảm mạnh như: khai khoáng khác (-20,3%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-47,4%); in, sao chép bản ghi các loại (-32,6%); sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu (-43,4%); sản xuất xe có động cơ (-7,3%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (-30,6%); khai thác, xử lý và cung cấp nước (-11,5%). Dù khó khăn nhưng trong năm vẫn có một số ngành có IIP tăng nhẹ: sản xuất trang phục (+1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+0,4%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (+5,4%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (+17,6%) và ngành sản xuất và phân phối điện (+24,5%).
Một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với năm trước như: điện sản xuất (2.765 triệu kwh, +30,9%); ghế khác có khung bằng gỗ (10,7 triệu chiếc, +17,7%);  mạch điện tử tích hợp (6,3 tỷ chiếc, +5,4%)…Một số sản phẩm công nghiệp giảm mạnh so với năm trước như: xe có động cơ (84,6 nghìn chiếc; -5,1%); quần áo nghề nghiệp (4 triệu cái, -20%); vải dệt thoi (4 triệu m2; -53,4%)…
Tính chung năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính đến 31/12/2020 tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp cộng dồn đến cuối tháng 12/2020 giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước.
4. Hoạt động của doanh nghiệp
Khu vực doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong năm 2020 do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19. Trong đợt khảo sát lần thứ nhất, cả tỉnh Quảng Nam có 2.033 doanh nghiệp tham gia trả lời, chiếm gần 30% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Ở lần khảo sát thứ 2, có 1.542 doanh nghiệp tham gia trả lời, chiếm hơn 23%. Tỷ lệ doanh nghiệp tại Quảng Nam bị tác động của dịch Covid-19 qua 02 đợt khảo sát lần lượt là: 87,85% và 88,48%.
Dịch Covid-19 bùng phát trở lại, khu vực dịch vụ bị tác động nhiều nhất (gần 90%), tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng (88%); trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng ít hơn 81,3%. Nhiều ngành tiếp tục chịu tác động tiêu cực từ dịch Covid-19, trong đó một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất như: dệt may (100%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (98,8%), vận tải (93,1%),...
Tính chung từ đầu năm 2020 đến nay, đăng ký thành lập mới 1.255 DN với số vốn đăng ký 9.023 tỷ đồng, bằng 87% số DN đăng ký mới và vốn đăng ký chỉ xấp xỉ 51% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp giải thể 295 doanh nghiệp (-38,5%); thông báo ngừng hoạt động 531 DN (+37%) so với cùng kỳ năm trước. Đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 97 chi nhánh và 18 văn phòng đại diện (bằng 72% so với cùng kỳ năm trước).
Theo kết quả khảo sát dự báo sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2020 cho thấy xu hướng kinh doanh có chiều hướng khả quan hơn so với quý III/2020. Cụ thể: Quý IV/2020 có 39,7% số doanh nghiệp được khảo sát dự báo tốt hơn, có 19,3% giữ ổn định và có 40,9% số doanh nghiệp cho là khó khăn. Một số ngành tiếp tục dự báo sẽ khó khăn hơn như: sản xuất đồ uống (50%); ngành dệt (83,3%); sản xuất trang phục (57,1%); sản xuất da và các sản phẩm liên quan (66,6%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (50%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (50%). Bên cạnh đó có một số ngành dự báo tình hình sản xuất tốt hơn như: sản xuất xe có động cơ (71,4%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (60%) và sản xuất giường, tủ, bàn ghế (100%).
5. Hoạt động thương mại, dịch vụ
Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GRDP (34,3%), nhưng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi dịch bệnh Covid-19 đã làm sụt giảm tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; VA khu vực dịch vụ giảm 10,2% (đã làm giảm 3,5 điểm phần trăm trong mức tăng trưởng chung). Quy mô VA của khu vực dịch vụ thu hẹp trên 2,4 nghìn tỷ đồng so với năm 2019.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2020 ước đạt trên  47 nghìn tỷ đồng, bằng 88% so với năm 2019. Trong đó doanh thu bán buôn bán lẻ hàng hóa đạt gần 38 nghìn tỷ đồng (+6%); dịch vụ lưu trú ăn uống 5,6 nghìn tỷ đồng (-50,6%); dịch vụ lữ hành 57,7 tỷ đồng (-78,7%); dịch vụ khác 3,7 nghìn tỷ đồng (-39,7%).
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ năm 2020 ước đạt gần 3,8 nghìn tỷ đồng, giảm 23% so với năm 2019. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 457 tỷ đồng (-51%), vận tải hàng hóa ước đạt 2,7 nghìn tỷ đồng (-15,8%), hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 620 tỷ đồng (-17,2%).
Tính chung cả năm 2020, tổng lượt khách lưu trú ước đạt gần 876 nghìn lượt khách, giảm 76,4% so với năm 2019; trong đó lượt khách quốc tế ước đạt gần 337 nghìn lượt khách (-79,4%); lượt khách trong nước ước đạt hơn 539 nghìn lượt khách (-74%). Tổng lượt khách tham quan ước đạt gần 8,3 nghìn lượt khách (-94%), trong đó lượt khách quốc tế giảm 96,5% (tương ứng giảm 76 nghìn lượt khách); khách Việt Nam đi trong nước (-89%; -44,5 nghìn lượt khách); lượt khách Việt Nam đi nước ngoài (-99,8%; -1,8 nghìn lượt khách).  
6. Tài chính, ngân hàng
Tình hình thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn trong thời gian qua đạt thấp so với dự toán và cùng kỳ. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2020 ước đạt trên 21 nghìn tỷ đồng (bằng 81,6% so với dự toán, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước); trong đó thu nội địa đạt 17.477 tỷ đồng (85,2%; -8,1%); thu xuất nhập khẩu đạt gần 3,6 nghìn tỷ đồng (67,6%; +3,2%). Tổng chi cân đối ngân sách địa phương năm 2020 ước đạt trên 17,6 nghìn tỷ đồng, bằng 60% dự toán năm, giảm 4% so với cùng kỳ; trong đó, chi đầu tư phát triển đạt gần 7,3 nghìn tỷ đồng (66,8%, -1%); chi thường xuyên đạt trên 10,3 nghìn tỷ đồng (78,5%; -6%).
Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đến cuối năm 2020 đạt gần 59,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,9% so với đầu năm; trong đó, nguồn huy động bằng nội tệ đạt gần 58,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 98,4% tổng nguồn), huy động bằng ngoại tệ đạt 684 tỷ đồng( chiếm 1,6%). Tổng dư nợ ước đến 31/12/2020 đạt gần 76,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với đầu năm, đây là mức tăng thấp kỷ lục trong nhiều năm trở lại và chỉ đạt 94% chỉ tiêu kế hoạch dư nợ đăng ký đầu năm.
7. Đầu tư - xây dựng
Hoạt động đầu tư - xây dựng trong năm giảm do tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn; thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản rườm rà; một số công trình phải tạm ngừng thi công để thực hiện giãn cách xã hội. Theo đó, VA ngành xây dựng giảm 5,8% (đã làm giảm 0,4 điểm phần trăm trong mức tăng trưởng chung toàn nền kinh tế), quy mô VA ngành xây dựng thu hẹp gần 280 tỷ đồng so với năm trước.
Năm 2020, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước thực hiện trên 28 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,9% GRDP và giảm gần 13% so cùng kỳ. Trong đó vốn đầu tư thuộc nguồn vốn Nhà nước quản lý (+0,7%); vốn huy động từ khu vực ngoài Nhà nước (-18,8%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (-14,5%).
Trong năm 2020 tỉnh Quảng Nam đã cấp mới 53 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 8 nghìn tỷ đồng; điều chỉnh 90 dự án và chấm dứt hoạt động 04 dự án. Số dự án cấp mới năm 2020 giảm 26,4% so với năm 2019 và tổng vốn đăng ký giảm 47,1% so với năm 2019. Tổng số dự án còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh hiện nay khoảng 640 dự án với tổng vốn đăng ký gần 165 nghìn tỷ đồng. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, năm 2020 tỉnh Quảng Nam chỉ cấp mới 06 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm 76,9% so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 33 triệu USD (-78,8%).      
8. Chỉ số giá  
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong tháng 12/2020 tăng 0,17% so với tháng trước (trong đó khu vực thành thị tăng 0,01%; khu vực nông thôn tăng 0,22%). CPI bình quân năm 2020 so với bình quân năm trước tăng 3,05%. Các nguyên nhân chính làm tăng CPI trong tháng: (1) Nhu cầu về các loại quần áo ấm, giày dép, chăn nệm tăng làm chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,45% so với tháng trước, góp phần tăng CPI chung 0,03%; (2) Giá xăng dầu điều chỉnh tăng, cùng với giá các dịch vụ giao thông công cộng (vé tàu hỏa, vé máy bay) tăng làm chỉ số nhóm giao thông tăng 2,54%, góp phần tăng CPI chung 0,28%; (3) Một số nhóm giảm giá góp phần làm chỉ số của CPI chung chỉ tăng 0,17% như: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (-0,47%), nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (-1,65%).
Do ảnh hưởng chung của giá vàng thế giới, chỉ số giá vàng tháng 12/2020 giảm nhẹ so tháng trước (-0,44%), tuy nhiên vẫn tăng 29,64% so với cùng kỳ năm trước. Đồng đô la Mỹ trong tháng 12/2020 tiếp tục giảm so tháng trước (-0,16%), giảm 0,04% so cùng kỳ; tính bình quân giá 1 đô la Mỹ trong tháng quy đổi được 23.232 đồng Việt Nam.
9. Dân số, lao động và việc làm
Dân số trung bình năm 2020 trên 1,5 triệu người, trong đó dân số nữ có gần 765 nghìn người (chiếm 50,8%); dân số khu vực thành thị gần 396 nghìn người (chiếm 26,3%). Dân số từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động hơn 903 nghìn người (chiếm 60%); trong số lao động đang làm việc khu vực nông lâm thủy sản có trên 347 nghìn lao động (chiếm tỷ lệ 39,6%); khu vực công nghiệp - xây dựng trên 263 nghìn lao động (chiếm 30%); khu vực dịch vụ trên 264 nghìn lao động (chiếm 30,1%).
Hiện nay, nhu cầu tuyển dụng lao động, kết hợp với đào tạo nghề cho lao động phổ thông chưa có tay nghề, nhất là lao động trẻ mới làm việc lần đầu, đã tạo cơ hội để người thất nghiệp có việc làm và dự báo tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh sẽ giảm trong thời gian đến nếu không có dịch bùng phát trở lại.
10. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Đời sống dân cư năm 2020 trên địa bàn bị tác động bất lợi từ thiên tai, dịch bệnh, nhất là đối tượng người nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội; nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã phải tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô hoặc sản xuất cầm chừng làm gia tăng thất nghiệp, mất việc làm trong ngắn hạn. Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã thực hiện các giải pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng. Do đó tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản vẫn giữ ổn định. Theo kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2020, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chung cả tỉnh đạt hơn 3,6 triệu đồng, tăng hơn 12% so với năm 2019.
Theo kết quả khảo sát hộ nghèo năm 2020, trên địa tỉnh Quảng Nam còn 22.950 hộ nghèo, tỷ lệ 5,37%, giảm 2,7 nghìn hộ nghèo so với năm 2019, vượt chỉ tiêu giảm nghèo đề ra.
Năm 2020 toàn tỉnh đã cấp miễn phí 199.881 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng là người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tổng kinh phí thực hiện hơn 183 tỷ đồng. Bên cạnh đó đã hỗ trợ đóng 70% bảo hiểm y tế cho 11.545 người cận nghèo trên 4,6 tỷ đồng.
Trong năm 2020, thực hiện trợ cấp tại cộng đồng cho 95.500 đối tượng BTXH và hơn 12.000 cá nhân, hộ gia đình nhân nuôi dưỡng chăm sóc đối tượng BTXH tại cộng đồng, với tổng kinh phí chi trả 600 tỷ đồng. Thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc trên 500 đối tượng tại các cơ sở BTXH trên địa bàn với tổng kinh phí trên 7,2 tỷ đồng.   
11. Giáo dục - đào tạo
Năm học 2020 - 2021 (tính đến tháng 11 năm 2020) tỉnh Quảng Nam có 802 trường, giảm 01 trường so với cuối năm học 2019-2020, trong đó: 288 trường Mẫu giáo - Mầm Non; 239 trường Tiểu học; 218 trường Trung học cơ sở; 57 trường Trung học phổ thông. Toàn tỉnh có 533 trường học đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 66,4%; với tỉ lệ này Quảng Nam tiếp tục dẫn đầu các tỉnh Duyên hải miền Trung về công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
Công tác phổ cập giáo dục mầm non được quan tâm, đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,6%. Hiện nay có 02/18 huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học 100%, ở trung học cơ sở 99,9%.  Công tác xóa mù chữ, chống tái mù chữ được thực hiện hiệu quả, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa; năm học 2019 - 2020 tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 đạt 97,9%.
Kết quả tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2020 của tỉnh Quảng Nam (không tính thí sinh tự do) đạt 98,1%. Tham gia các kỳ thi lớn của quốc gia và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ; năm 2020 học sinh trên địa bàn đã đạt 33 giải, tăng 03 giải so với năm 2019. Cuộc thi Olympic du học Nga năm 2020 đạt được 23/44 suất học bổng toàn phần.
12. Y tế, chăm sóc sức khỏe, tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tình hình dịch bệnh Covid-19 hiện nay đã cơ bản được kiểm soát, từ đầu mùa dịch đến nay (tính đến ngày 21/11/2020) đã triển khai thực hiện 99.636 mẫu xét nghiệm, trong đó 104 mẫu dương tính, 99.532 mẫu âm tính.
Tính từ đầu năm đến nay, số ca nhiễm HIV phát hiện mới 39 ca, số ca tử vong do HIV/AIDS 01 ca; số ca nhiễm HIV hiện được quản lý 432 ca; phát hiện 2.840 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue; 400 trường hợp mắc bệnh thủy đậu; 425 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 6.164 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy; 236 trường hợp mắc bệnh quai bị; 568 trường hợp lao phổi, 5 trường hợp mắc viêm gan virut B, 106 trường hợp mắc viêm gan virut khác, 16.106 trường hợp mắc cúm.
13. Hoạt động văn hoá và thể thao
Công tác thông tin, tuyên truyền cổ động trực quan nhân các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị của đất nước, của địa phương, của ngành trong tỉnh và công tác tham gia phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 được quan tâm chỉ đạo kịp thời, sâu rộng và có chất lượng.
Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao được duy trì thường xuyên. Tổ chức thành công Giải bơi toàn quốc dành cho học sinh diễn ra tại tỉnh Quảng Nam. Tổ chức 08 giải thể thao cấp tỉnh. Tham gia Giải Cầu lông, Bóng bàn gia đình toàn quốc tại tỉnh Đắk Lắk, kết quả đạt 01 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ; tham gia Giải miền Trung Tây – Nguyên đạt 32 huy chương các loại.
14. Tình hình tai nạn giao thông
Tính đến 15/12/2020 (từ ngày 16/12/2019 - 15/12/2020) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 189 vụ tai nạn giao thông (đường bộ: 184 vụ, đường sắt: 3 vụ, đường thủy nội địa: 2 vụ), làm chết 132 người (đường bộ: 119 người, đường sắt: 2 người, đường thủy: 11 người), bị thương 155 người (đường bộ: 153 người, đường sắt: 2 người), so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 45 vụ, giảm 38 người chết và giảm 8 người bị thương.
15. Tình hình cháy, nổ và vi phạm môi trường, thiên tai
Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện 110 trường hợp vi phạm, lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính 71 trường hợp với tổng số tiền xử phạt gần 1,7 tỷ đồng; toàn tỉnh đã xử lý 79 vụ cháy, 01 vụ nổ, làm 5 người chết và 2 người bị thương, ước tổng mức thiệt hại gần 27 tỷ đồng.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng các loại hình thiên tai như sau: 06 đợt dông, lốc sét trên địa bàn các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Hiệp Đức, Đại Lộc, Điện Bàn gây thiệt hại một số tài sản của nhân dân, làm chết 02 người; 01 trận động đất 2,8 độ Richte tại huyện Bắc Trà My nhưng không gây thiệt hại lớn; 03 đợt thiên tai do ảnh hưởng của bão số 5, bão số 6 và bão số 9 đã gây ra thiệt hại nặng nề về đời sống dân sinh, sản xuất và cơ sở hạ tầng trên hầu hết các huyện. Tổng giá trị thiệt hại ước tính của 3 cơn bão gây ra khoảng hơn 10,8 nghìn tỷ đồng; làm 739 nhà bị sập và hơn 100 nghìn nhà bị hư hại; làm 42 người chết, 19 người mất tích và hơn 300 người bị thương.
Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2020 chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế... đã làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các lĩnh vực; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn; số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng so với cùng kỳ; ngành du lịch với lượng khách tham quan, lưu trú, nhất là khách quốc tế giảm mạnh; thu ngân sách nhà nước giảm so với cùng kỳ. Năm 2021, Quảng Nam cần có sự nỗ lực lớn để phục hồi sản xuất kinh doanh nhất là những ngành kinh tế chủ lực của tỉnh; tuy nhiên dự báo khả năng phục hồi chậm và phụ thuộc nhiều vào khả năng khống chế tình hình dịch bệnh Covid-19 trên diện rộng.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây